Khái niệm và các yếu tố cơ bản của quản lý

 Tiến hành tạo ra các sản phẩm và dịch vụ – quá trình sản xuất.
Làm cho khách hàng biết và hiểu về sản phẩm và dịch vụ của tổ chức, muốn có sản phẩm và dịch vụ, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng.
Thực hiện các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng khi sử dụng sàn phẩm và dịch vụ.


Khái niệm và các yếu tố cơ bản của quản lý

Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội của tổ chức.
Thực hiện hoạt động kế toán và thống kê để phản ánh hoạt động của tổ chức bằng con số.
Xây dựng, củng cố, phát triển các mối quan hệ đối ngoại.
Thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mói, các quy trinh và kỹ thuật mới để thực hiện các hoạt động của tổ chức.
Thực hiện các hoạt động hậu cần để hỗ trợ cho các hoạt động kể trên của tổ chức (cung cấp văn phòng phẩm, tiến hành sửa chữa nhỏ, vệ sinh, nhà ăn, đội xe…).

Hợp nhóm các hoạt động có cùng chung tính chất, ta thấy xuất hiện những chức năng hoạt động cơ bản của tổ chức như: marketing, tài chính, sản xuất, nhân lực, nghiên cứu và phát triển.

Các hoạt động của tổ chức thường được thực hiện bởi nhiều người có lợi ích, mục tiêu riêng. Để phối họp hoạt động của họ nhằm thực hiện mục tiêu chung, tổ chức cần có quản lý.

Khái niệm và các yếu tố cơ bản của quản lý

Tất cả những điều chúng ta đề cập trong các chương tiếp theo của cuốn sách này liên quan đến quản lý hệ thống xã hội nói chung, tổ chức nói riêng và công việc của nhà quản lý. Vì vậy rất cần phải phát triển một sự hiểu biết rõ ràng về khái niệm quản lý trong toàn văn bản. Hãy xem khái niệm về quản lý và những yếu tổ cơ bản có thể rút ra từ khái niệm đó.

Khải niệm quản lý

Quản lý được định nghĩa theo nhiều cách:

Quản lý là nghệ thuật đạt mục đích thông qua nỗ lực của những người khác.

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhàm sử đụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường.

Quản lý là phối họp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sự khác nhau trong cùng một tổ chức.

Quản lý là một quá trình phối hợp các nguồn lực một cách hiệu lực và hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: nghệ thuật quản lý nhân sự

Tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức

Tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức

      Theo tính chất của các mối quan hệ, các tổ chức được chia làm tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức.

      Tổ chức chính thức thường được hiểu với một số đặc trưng cơ bản. Thứ nhất, là tổ chức mà trong đó mọi thành viên của nó đều được xác định một cách rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, thầm quyền và trách nhiệm.

Tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức

      Thứ hai, là tổ chức mà cơ cấu có thể được hiển thị thông qua một sơ đồ cơ cấu với các mối liên hệ rõ ràng. Thứ ba, là tổ chức có thể cung cấp những sản phẩm và dịch vụ cụ thể cho khách hàng của mình trong khuôn khổ pháp luật. Ví dụ điển hình về các tổ chức chính thức có thể kể đến các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, các trường học, bệnh viện, các tổ chức xã hội và đoàn thể, các tổ chức tôn giáo, v.v.

      Tổ chức phi chỉnh thức không mang những đặc trưng kể trên. Điển hình của tổ chức phi chính thức có thể kể đến những nhóm được hình thành thông qua các mối quan hệ cá nhân, tổn tại trong tổ chức chính thức do cùng chung nguyện vọng, sở thích, quan điểm, tư tường, v.v.

      Mối quan tâm của môn học này sẽ chi tập trung vào những tổ chức chính thức và hoạt động của các nhà quản lý trong các tổ chức đó.

Các hoạt động cơ bản của tổ chức

       Hoạt động của các tổ chức là muôn hỉnh muôn vẻ phụ thuộc vào mục đích tổn tại, lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội, quy mô, phương thức hoạt động được chủ thể quản lý lựa chọn và các yếu tổ ngoại lai khác. Tuy nhiên mọi tổ chức đều phải thực hiện các hoạt động theo một tiến trình liên hoàn trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường được thể hiện trong hình 1-6. Các hoạt động đó là:

  • Nghiên cứu và dự báo môi trường để trả lời các câu hỏi: Môi trường đòi hỏi gì ở tổ chức? Môi trường tạo ra cho tổ chức những cơ hội và thách thức nào? Tổ chức có những điểm mạnh và điểm yếu nào trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng?, v.v. Trong thế giới ngày nay, hoạt động nghiên cứu và dự báo môi trường được coi là hoạt động tất yếu đầu tiên của mọi tổ chức.

  • Thiết kế ra các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng.
  • Tìm kiếm và huy động các nguồn lực cho hoạt động của tổ chức, đặc biệt là đầu vào cho quá trình tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ của tổ chức.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: quản lý kinh tế

Tổ chức vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận

      Tổ chức phi lợi nhuận là tổ chức không có chủ sở hữu hoặc sở hữu tư nhân; hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục, từ thiện hoặc các mục đích phục vụ cộng đồng; không mang mục tiêu chính là lợi nhuận; và sử dụng lợi nhuận thu được chủ yếu để duy trì, cải thiện và mở rộng hoạt động của tổ chức. Danh mục các tổ chức phi lợi nhuận thật vô cùng đa dạng.

Tổ chức vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận

      Đó có thể là các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể, nghề nghiệp, các tổ chức từ thiện, các tổ chức tôn giáo, các trường học, bệnh viện tư, v.v. Ngày nay, các tổ chức phi lợi nhuận nhưng lại phi chính phủ đang phát triển hết sức mạnh mẽ tạo nên khu vực thứ ba (khu vực xã hội, khu vực phi lợi nhuận, xã hội dân sự), bên cạnh khu vực nhà nước và khu vực tư nhân. Các tổ chức này hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản lý, vì lợi ích công cộng, không phân phối lợi nhuận. Hoạt động của các tổ chức thuộc khu vực thứ ba được tài trợ chủ yếu bằng các khoản phí và hiển tặng tình nguyện chứ không phải bằng tiền thuế. Chúng độc lập và được quản lý bởi các ban lãnh đạo tình nguyện riêng của mình. Hiện nay, cứ hai người Mỹ trưởng thành thì có người làm việc tình nguyện trong khu vực thứ ba này, song rất ít người nhận thức được tầm quan trọng của nó.

Tổ chức vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận

     Theo mục tiêu cơ bản, các tổ chức được phân ra thành tổ chức vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận.

     Tổ chức vì lợi nhuận là tổ chức tồn tại chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận. Yêu tố được quan tâm nhất ở các tổ chức này là bao nhiêu lợi nhuận được tạo ra từ các khoản đầu tư và lợi ích của các chủ sở hữu được thỏa mãn như thế nào. Đó chính là các doanh nghiệp, các hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, v.v.

     Tổ chức phi lợi nhuận là tổ chức tổn tại để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cộng đồng. Đó là các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức từ thiện, các viện bảo tàng, v.v. Tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá kết quả hoạt động của các tổ chức này không phải là lợi nhuận. Chẳng hạn, mối quan tâm hàng đầu của một viện bảo tàng sẽ lả số người đến xem những tác phẩm được trưng bảy và khả năng bổ sung các tác phẩm mới. Còn một tổ chức từ thiện sẽ quan tâm đến số lượng người được cứu giúp.


Tổ chức công và tổ chức tư

       Theo những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm về tổ chức công và tổ chức tư rất đa dạng.

      Theo chế độ sở hữu: Tổ chức công là tổ chức thuộc quyền sở hữu của Nhả nước hoặc không có chủ sở hữu. Đó chính là các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, các trưởng học và bệnh viện công, các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể, nghề nghiệp, v.v.

So sánh tổ chức công và tổ chức tư

      Tổ chức tư là tổ chức thuộc sở hữu tư nhân (của một hay một nhóm người). Đó có thể là các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hợp tác xã, trang trại, hộ kinh doanh cá thể, hộ nông dân, trường học tư, bệnh viện tư, v.v.

     Theo sản phẩm, dịch vụ mà tổ chúc tạo ra: Tổ chức công là tổ chức tạo ra các sàn phẩm, dịch vụ công – những sản phẩm, dịch vụ mà người sử dụng không phải cạnh tranh và loại trừ nhau để có quyền sử dụng. Tổ chức tư là tổ chức tạo ra các sản phẩm và dịch vụ tư.

      Theo chế độ sở hữu và mục tiêu cơ bản:Tổ chức tư là tổ chức thuộc sở hữu và được kiểm soát bởi tư nhân, hoạt động vì mục tiêu cơ bản là tìm kiếm lợi nhuận. Đó có thể là các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trang trại, hộ kinh doanh cá thể, hộ nông dân.

       Tổ chức công là tổ chức thuộc sở hữu nhà nước, không có chủ sở hữu hoặc sở hữu tư nhân, hoạt động với mục tiêu chính không phải vì lợi nhuận mà hướng tới phục vụ lợi ích của cộng đồng, của xã hội (lợi ích công cộng). Các tổ chức công có thành phần hết sức đa dạng, hợp thành hai nhổm: (1) các tổchức nhà nước và (2) các tổ chức phi lợi nhuận.

      Tổ chức nhà nước là tổ chức thuộc sở hữu và được kiểm soát bởi nhân dân mà đại diện là Nhà nước. Đó là các cơ quan quản lý nhà nước và các công ty nhà nước – các tổ chức được tạo nên để phục vụ lợi ích công cộng, tài trợ toàn bộ hoặc một phần bởi Nhà nước, tổn tại độc lập hoặc là một phần của cơ quan nhà nước, mang bản chất kinh doanh. Ví dụ về công ty nhà nước có thể là doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức sự nghiệp như trường học, bệnh viện công, các văn phòng cung cấp dịch vụ công thuộc các ƯBND, v.v.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: ngành quản lý kinh tế

Mọi tổ chức đều là hệ thống mở

       Mọi tổ chức đều là những hệ thống xã hội gồm nhiều người làm việc vì mục tiêu chung trong cơ cấu tổ chức ổn định. Khi đứng vào một tổ chức, chúng ta đã cam kết hành động cùng với những người khác vì mục tiêu chung chứ không phải chi hướng tới mục tiêu riêng của mình. Các thành viên của tổ chức không thể gia nhập tổ chức chỉ với ý chí của mình mà phải được tuyển chọn, được xác định: chức năng, nhiệm vụ (những việc cần làm); quyền hạn (những điều được làm); trách nhiệm (những mục tiêu cần đạt được); lợi ích (những điều được hưởng).

Mọi tổ chức đều là hệ thống mở

      Mọi tổ chức đều chia sẻ mục tiêu lớn- cung cấp sản phẩm và dịch vụ cá giá trị đối với khách hàng. Ý thức rõ ràng về mục tiêu gắn liền với “các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng” và “thỏa mãn khách hàng” là nguồn gốc quan trọng của sức mạnh và lợi thế đối với một tổ chức. Đối với tổ chức như Wyman ở bài tập tình huống cuối chương, sự thành công đã trở lại khi Hilliard nhận thức được mục tiêu quan trọng của tổ chức là cung cấp các dịch vụ phòng ngừa, giáo dục, cho thuê trại, giải trí với chất lượng cao.

     Mọi tổ chức đều là hệ thống mở. Tổ chức tương tác với môi trường trong quá trình liên tục thu hút các nguồn lực đầu vào để chuyển đổi thành đầu ra là các sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng.

      Cuối cùng, mọi tổ chức đều được quản lý. Hình ảnh của các nhà quản lý luôn gán liền với những tổ chức nhất định. Ví dụ: Tổng thống đứng đầu nhà nước, thủ tướng đứng đầu chính phủ, hiệu trưởng đứng đầu trường học, giám đốc đứng đầu bệnh viện, tổng giám đốc đứng đầu tổng công ty, tổ trường đứng đầu nhóm làm việc, v.v. Người ta có thể đặt dấu hỏi về vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế nhưng chưa ai nghi ngờ vaitrò của quản lý đối với một tô chức. Vai trò đó được th hiện từ khi xác định mục đích để hình thành một tổ chức đến vận hành tổ chức nhằm thực hiện mục đích. Một tổ chức, với  bản chất của nó, không thể tự hoạt động mà phải được quản lý.

Các loại hình tổ chức

      Các tổ chức đang tổn tại thật vô cùng đa dạng. Chúng có thể khác nhau khi trả lời các câu hỏi: Ai nắm quyền sở hữu tổ chức? Tổ chức được tạo nên vì mục đích gi? Sản phẩm, dịch vụ của tổ chức là gì? Các mối quan hệ trong tổ chức có thể hiện rõ ràng hay không? Vì vậy cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau trong phân loại các tổ chức và sau đây là một số cách phân loại cơ bản.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: quản lý học
 
;